Cần xem lại cách đề niên hạn trên Bốn miếu

Cần xem lại cách đề niên hạn trên Bốn miếu!
Bốn miếu là nơi lập đàn tràng tế lễ, nơi chiêu hồn tử sỹ chết trận trở về.
Căn cứ vào sắc phong “Trung lang Thượng Tướng quân Trương Hy Trọng” và đình làng Minh Lệ ta thử đoán xem Bốn miếu được xây từ những năm nào. Theo tôi đây không phải là điện thờ tứ đức thần tổ mà là thờ các binh sĩ của các ngài trong bốn họ vâng mệnh của vua Lê Thánh Tông từ Hải Dương vào chinh phạt Chiêm Thành, rồi sau đó tham gia “bình Lồi thiết xã”. Nơi thờ các ngài phải là ở nhà thờ Họ. Di tích đồng Chăm không chỉ có ở làng Minh Lệ mà từ Đèo Ngang trở vào rất nhiều. (đồng Chăm, giếng Chăm có ở Quảng Phương, Hiền Ninh…vv.) Ngày nay ta thấy nhà thờ của các thần tổ đều được xây riêng, các lăng mộ của các ngài cũng cát cứ theo từng vùng của dòng họ sinh sống, rõ nét nhất là họ Trương và họ Trần. Và, Bốn miếu chắc chắn phải được xây dựng trước đình làng Minh Lệ. Sau khi Pháp đóng đồn trên động Lòi, lên làm lý trưởng Nguyễn Quý Huỳnh cho đắp đường kiến thiết chạy từ xóm Bắc xuống chợ Mới, xây giếng Vường và làm lại Bốn Miếu cho dân lương, làm nhà thờ cho dân đạo. Việc xây lại hoàn toàn bốn Miếu cũng không có gì là sai vì thực chất trước đây Trúc, Huỳnh cũng đã từng làm việc đó. Điều quan trọng là ghi như thế nào cho đúng? Xem lại lịch sử, sau khi nước ta giành được độc lập sau một ngàn năm Bắc thuộc (vào thế kỷ X) thì Lê Đại Hành thân chinh đánh Chiêm Thành (Vì Chiêm Thành ra đánh ta trước), đến thế kỷ XI nhà Lý tổ chức tiến đánh Chăm Pa. Đội quân của Lý Thường Kiệt đi bằng đường biển đổ bộ vào cửa sông Nhật Lệ. Từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ XV, lãnh thổ của vương quốc Chăm Pa bao gồm các tỉnh từ Quảng Bình, Quảng Trị cho đến Ninh Thuận, Bình Thuận. Đến năm 1069, vua Rudravarman (Chế Củ) của Chăm Pa đã nhượng ba châu Địa Lý (Lệ Thủy, Quảng Ninh, Quảng Bình ngày nay), Ma Linh (Bến Hải, Quảng Trị ngày nay) và Bố Chính (các huyện Quảng Trạch, Bố Trạch, Tuyên Hóa tỉnh Quảng Bình ngày nay) cho vua Lý Thánh Tông của Đại Việt, lãnh thổ Chăm Pa lúc ấy chỉ còn từ nam Quảng Trị ngày nay trở xuống. Đến năm 1306, vua Jayasimhavarman III (Chế Mân) nhượng hai châu Ô, Lý cho nhà Trần để cưới công chúa Huyền Trân. Nhà Trần đổi hai châu này thành hai châu Thuận và châu Hóa nay là vùng từ nam Quảng Trị cho đến Đà Nẵng, Điện Bàn. “Hai châu Ô, Lý vuông ngàn dặm/ Một gái thuyền quyên được mấy người” ca ngợi công lao của công chúa Huyền Trân. Đến năm 1471, vua Lê Thánh Tông sau khi đánh bại quân Chiêm và sáp nhập phần lớn lãnh thổ Chiêm. Như vậy xác lập lãnh thổ Chiêm chỉ bao gồm các tỉnh Phú Yên – Khánh Hòa và Ninh Thuận – Bình Thuận ngày nay. Bắt đầu lần tiến quân đầu tiên để mở mang bờ cõi là đi bằng đường biển. Vậy sau này đến thời hậu Lê, vua Lê thường xuyên trấn áp sự nổi dậy của Chiêm Thành đã đi bằng đường bộ tất phải qua “Giang sơn Bến Lội”. Thành Lồi bên Cao Lao Hạ cách làng Minh Lệ khoảng 3 cây số đường chim bay vẫn còn đó. Giai thoại chém đầu này mọc đầu khác không chỉ xuất hiện ở làng Minh Lệ mà dọc theo sông Gianh (xem bài đăng trên tạp chí Nhật Lệ của Nguyễn Xuân Sùng). Phần lãnh thổ còn lại của Chăm Pa bị chia nhỏ thành các tiểu quốc, và tiếp tục sau đó dần dần bị các chúa Nguyễn thôn tính và đến năm 1832 toàn bộ vương quốc chính thức bị sáp nhập vào Việt Nam dưới triều vua Minh Mạng. Và làng Minh Lệ có danh tính trên địa giới hành chính của tỉnh Quảng Bình ngay thời Minh Mạng (xem bài viết của Tiến sỹ Phan Viết Dũng về “Địa giới hành chính tỉnh Quảng Bình dưới thời Minh Mạng”, làng Minh Lệ thuộc xã Thị Lễ đăng trên báo Quảng Bình để hiểu thêm). Theo ý kiến cá nhân tôi thì Bốn miếu là nơi truy điệu anh em binh sĩ của bốn họ kéo từ Hải Dương vào tiến đánh quân Lồi rồi sau đó lập làng (“Bình Lồi thiết xã”) chứ không phải đền thờ các ngài. Căn cứ vào di tích thắng cảnh đình làng Minh Lệ khởi công vào năm 1464 thì rõ ràng xây vào thời Lê Sơ thuộc Hậu Lê (Lê Thánh Tông bắt đầu chinh phạt từ năm 1462 đây là đợt mở mang bờ cõi lớn nhất trong lịch sử Đại Việt). Nếu ghi ở Bốn Miếu là “Lê Triều” thì hoàn toàn sai. Theo tôi ghi vào thời Hồng Đức nguyên niên là tốt nhất. Vì Tiền Lê sau nhà Đinh, Thập Đạo Tướng quân Lê Hoàn lấy thái hậu Dương Vân Nga (vợ của Đinh Tiên Hoàng) là triều đại trước. Tiền Lê do Lê Hoàn lập nên. Nhà Lê (Hán-Nôm: 家黎 • 黎朝, nhà Lê • Lê triều) (980-1009) hay còn được gọi là nhà Tiền Lê (Hán-Nôm: 家前黎 • 前黎朝, nhà Tiền Lê • Tiền Lê triều) (để phân biệt với nhà Hậu Lê do Lê Lợi lập ra) là một triều đại trong lịch sử Việt Nam, bắt đầu khi Đinh Phế Đế nhường ngôi cho Lê Hoàn vào năm 980, trải qua ba đời vua và chấm dứt khi Lê Ngọa Triều qua đời, và hoàng tử kế vị đang còn nhỏ tuổi. Quốc hiệu vẫn là Đại Cồ Việt. Là triều đại tiếp sau nhà Đinh (968-980) và được kế tục bởi nhà Lý (1009-1225).Còn Lê Thánh Tông trị vì từ năm 1460 đến năm 1497 là Hậu Lê, ông đặt lệ cho các công thần được phong tước quốc công, quận công, hầu, bá. Những người không có đức độ, công lao rõ ràng đối với triều đại, thì không được xem như công thần và không được phong các tước đó. Đối với người mang tước quốc công, quận công thì lấy một chữ trong tên phủ, huyện để đặt hiệu (chẳng hạn Tĩnh quốc công Lê Niệm, Phủ quốc công Lê Thọ Vực); với người mang tước hầu, tước bá thì lấy cả hai chữ trong tên xã để đặt hiệu (ví dụ tước Nam Xương hầu đặt theo tên xã Nam Xương, tước Diên Hà bá đặt theo tên xã Diên Hà). Trung lang Thượng tướng quân là thời Hậu Lê đừng ghi nhầm Lê Triều mà có thể ghi Hậu Lê triều. Tốt nhất ghi Hồng Đức nguyên niên thì đúng với gia phả của Trung lang Thượng tướng quân Trương Đức Trọng. Lịch sử họ đã nhấn mạnh như thế rồi. Chữa sớm đi nhé! Còn lăng mộ của tứ đức thần tổ thì chúng ta đã biết rồi, bài vị của các ngài cũng đã rước vào đình làng. Các tên khe Lò Rèn, bến Sải, giang sơn bến Lội được những người Cà Ròong nhắc đến là quê hương tổ tiên họ ngày xưa, chúng ta cũng cần suy ngẫm khi tìm hiểu vùng đất địa linh nhân kiệt này!

17 Comments

Add a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *