ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP

ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP – TỔNG TƯ LỆNH CỦA CHIẾN TRANH NHÂN DÂN GIẢI PHÓNG DÂN TỘC VIỆT NAM
(Kỷ niệm 106 năm ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp 25-8-1911 – 25-8-2017)
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nổi tiếng thế giới kể từ khi ông chỉ huy Quân đội Nhân dân Việt Nam đánh bại quân đội viễn chinh Pháp ở Điện Biên Phủ vào ngày 7-5-1954, mở ra cơ hội kết thúc chiến tranh trên thế thắng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chủ thể chính trị hợp pháp, hợp hiến duy nhất của dân tộc Việt Nam trên toàn bộ đất nước sau Cách mạng tháng Tám năm 1945. Khi đó, Đại tướng mới chưa đủ 43 tuổi. Cho đến nay, bậc thầy về nghệ thuật quân sự Võ Nguyên Giáp không chỉ là “Người Anh Cả” của Quân đội Nhân dân Việt Nam mà còn là Đại tướng – Tổng tư lệnh duy nhất của quân đội ấy.
1- Các tướng lĩnh thực dân Pháp bại trận dưới tay Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Truyền thông thế giới đã đưa ra một sự so sánh rất lý thú. Đó là trong suốt 9 năm kháng chiến chống Pháp, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ với một chính phủ duy nhất do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, Quân đội Nhân dân Việt Nam với một Tổng tư lệnh duy nhất chỉ huy là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đã đánh bại quân đội viễn chinh nhà nghề của thực dân Pháp do 7 tướng lĩnh từ thống chế, đại tướng đến trung tướng lần lượt chỉ huy và dưới sự lãnh đạo của 18 đời chính phủ Pháp. Những tổng tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương lần lượt bại trận dưới tay Đại tướng Võ Nguyên Giáp gồm có:
– Trung tướng kỵ binh Philippe Leclerc (1902-1947), tốt nghiệp Trường Quân sự cao cấp Saint-Cyr (1924), từng chỉ huy Sư đoàn tiết giáp số 2 của quân Đồng minh chống phát xít tại Mặt trận phía Tây Châu Âu trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Tổng tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương từ năm 1945 đến năm 1946.
– Đại tướng lục quân Jean Étienne Valluy (1899-1970), tốt nghiệp Trường Quân sự cao cấp Saint-Cyr (1917), từng chỉ huy Sư đoàn bộ binh thuộc địa số 9 của quân Đồng minh chống phát xít tại Mặt trận phía Tây Châu Âu trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương từ năm 1946 đến năm 1948.
– Trung tướng lục quân Roger Henri Blaizot (1891-1981), nguyên tùy viên quân sự Pháp tại Trung Quốc (1919-1920), từng chỉ huy Sư đoàn cơ giới thuộc địa số 1 của quân Đồng minh chống phát xít tại Mặt trận phía Tây Châu Âu trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương từ năm 1948 đến năm 1949.
– Đại tướng lục quân Marcel Maurice Carpentier (1895-1977), tốt nghiệp Trường Quân sự cao cấp Saint-Cyr (1937), từng chỉ huy Sư đoàn bộ binh Marocco số 2 của quân Đồng minh chống phát xít tại Mặt trận phía Tây Châu Âu trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương từ năm 1949 đến năm 1950.
– Thống thế Jean de Lattre de Tassigny (1889-1952), tốt nghiệp Trường Quân sự cao cấp Saint-Cyr (1911), nguyên Tham mưu trưởng các lực lượng vũ trang khối quân sự Bắc Đại tây Dương NATO, từng chỉ huy Tập đoàn quân Pháp số 1 của quân Đồng minh chống phát xít tại Mặt trận phía Tây Châu Âu trong Chiến tranh thế giới thứ hai và là Tổng chỉ huy các lực lượng quân sự Pháp tại nước Đức sau năm 1945. Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương từ năm 1950 đến năm 1952.
– Đại tướng Raoul Louis Salan (1899-1984), tốt nghiệp Trường Quân sự cao cấp Saint-Cyr (1917), từng chỉ huy Sư đoàn bộ binh Pháp số 14 trong Chiến tranh thế giới thứ hai, là người đã tháp tùng Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến thăm nước Pháp đầu tiên của lãnh đạo đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ tháng 7 đến tháng 9 năm 1946; nguyên Tư lệnh chiến trường Bắc Đông Dương giai đoạn 1947-1952. Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp ở Đông Dương từ năm 1952 đến năm 1953.
– Đại tướng Henry Navare (1898 – 1983), tốt nghiệp Trường Quân sự cao cấp Saint-Cyr (1916), từng chỉ huy Sư đoàn thiết giáp trong Tập đoàn quân Canada 1 ở Mặt trận phía Tây Châu Âu cuối Chiến tranh thế giới thứ hai. Tổng tham mưu trưởng các lực lượng vũ trang khối quân sự Bắc Đại Tây Dương (NATO). Tổng tư lệnh quân đội viễn chính Pháp đại Đông Dương từ năm 1953 đến năm 1954.
2- Các tướng lĩnh đế quốc Mỹ bại trận dưới tay Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam (1954 – 1975), cũng có tới hơn chục tướng tài của nước Mỹ lần lượt bại trận dưới tay Đại tướng Võ Nguyên Giáp và đồng chí của ông, gồm có:
– Đại tướng Maxwell Davenport Taylor (1901 – 1987); Tốt nghiệp Học viện Lục quân West Point năm 1922; Tư lệnh Sư đoàn đổ bộ đường không 101 ở mặt trận Tây Âu (1944-1945); Giám đốc Học viện West Point (1946-1949); Tư lệnh các lực lượng Đồng minh (Anh, Pháp, Mỹ) ở Tây Đức (1949-1951); Tư lệnh Tập đoàn quân 8 Mỹ trong Chiến tranh Triều Tiên (1951-1953); Tham mưu trưởng lục quân Mỹ (1954-1959); xin nghỉ hưu năm 1959 do bất đồng chính kiến với Bộ Quốc phòng Mỹ; tái ngũ và được bổ nhiệm Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ (1962-1964); Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn (1964-1968); đồng tác giả của “Chiến lược Chiến tranh đặc biệt” trong Chiến tranh Việt Nam (với Tiến sĩ kinh tế học Eugene Staley của Viện nghiên cứu Đại học Standford) mang tên “Kế hoạch Staley-Taylor” nhằm bình định miền Nam Việt Nam trong 4 năm (1961-1965) bằng cái gọi là “quốc sách Ấp chiến lược” (chính trị) và công thức “Quân đội ngụy Sài Gòn + Vũ khí trang bị của Mỹ + Cố vấn Mỹ” (quân sự).
– Đại tướng Earle Wheeler, (1908 – 1975). Giảng viên cao cấp của Học viện lục quân West Point. Chỉ huy sư đoàn trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Phó tư lệnh các lực lượng quân sự Mỹ ở Tây Âu. Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ từ 1964 đến 1970.
– Đô đốc Thomas Hinman Moorer, (1912 – 2004). Tốt nghiệp Học viện Hải quân Mỹ năm 1933. Chỉ huy các tàu sân bay USS Langley, USS Lexington và USS Enterprise trong Chiến tranh Thế giới thứ II. Tư lệnh Hạm đội Tây Thái Bình Dương (1964-1970), Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ từ năm 1970 đến năm 1974.
– Đại tướng Paul Donal Harkins (1904 – 1984), tốt nghiệp khoa kỵ binh Học viện lục quân West Point năm 1929, Tư lệnh sư đoàn thiết giáp Mỹ số 2 tại Bắc Phi (1942), Phó tư lệnh Quân đoàn 7 (Mỹ) tại mặt trận Ý (1943), Phó tham mưu trưởng Tập đoàn quân Mỹ số 3 ở mặt trận Tây Âu (1944 – 1945); Tư lệnh các lực lượng chiếm đóng Mỹ tại Bavaria (Tây Đức) sau chiến tranh thế giới thứ II. Tư lệnh các lực lượng cố vấn Mỹ hỗ trợ ngụy quyền Sài Gòn ở miền Nam Việt Nam (MACV) từ năm 1962 đến năm 1964.
– Đại tướng William Childs Westmoreland (1914-2005), biệt danh “Westy”. Tốt nghiệp Học viện Lục quân West Point năm 1936. Từng chỉ huy Sư đoàn bộ binh Mỹ số 9 ở Bắc Phi trong Chiến tranh thế giới thứ II; Giảng viên cao cấp Trường Sĩ quan chỉ huy và tham mưu Fort Leavenworth (1950-1951); Tổng thư ký Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ (1955-1958), Tư lệnh Sư đoàn đổ bộ đường không 101 mang tên “Tia chớp nhiệt đới” (1958 – 1960); Giám đốc Học viện lục quân West Point (1960 – 1964); Tổng tư lệnh các lực lượng viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam từ 1964 đến 1968. Tham mưu trưởng lục quân Mỹ từ 1968 đến 1972. Tác giả chiến lược “Tìm và diệt” của quân đội Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam.
– Đại tướng Creigton Williams Abrams Jr. (1914 – 1974); Tốt nghiệp khoa tăng – thiết giáp Học viện lục quân West Point năm 1936; Tư lệnh Sư đoàn thiết giáp Mỹ số 1 (1940). Tư lệnh Sư đoàn xe tăng Mỹ số 4 trong thành phần Quân đoàn thiết giáp 37 thuộc Tập đoàn quân Mỹ số 3 (1944-1945). Giảng viên cao cấp Khoa Chiến thuật tại Trường sĩ quan Tăng – thiết giáp Fort Knox (1946-1948); Tốt nghiệp Trường sĩ quan Tham mưu – Chỉ huy cao cấp Fort Leavenworth (1949); Tham mưu trưởng các quân đoàn 1, 9 và 10 của quân Đội Mỹ tại chiến tranh Triều Tiên (1950-1953); Tốt nghiệp Học viện quân sự quốc gia Washington DC (1954); Phó tư lệnh các lực lượng dự bị của Bộ Quốc phòng Mỹ (1955-1958); Tư lệnh Sư đoàn xe tăng 3 Mỹ (1959 – 1962); Tư lệnh Quân đoàn 5 Mỹ ở Tây Âu (1963-1964). Phó chánh văn phòng Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ (1964 -1967), Phó tổng tư lệnh quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam (1967-1968), Tổng tư lệnh quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam (1968–1972); Tham mưu trưởng lục quân Mỹ (1972-1974). Tác giả chiến lược “Quét và giữ” của quân đội Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam.
– Trung tướng Frederick Carlton Weyand (1916 – 2010); Tốt nghiệp trường sĩ quan dự bị chỉ huy trung đội Berkeley (1938); tốt nghiệp khoa Pháo binh Trường sĩ quan chỉ huy – tham mưu Fort Leavenworth (1942); Trợ lý của Tư lệnh Quân cảng San Francisco (1942-1943); Trưởng phòng Châu Á thuộc Cục tình báo Bộ Quốc phòng Mỹ DIA (1944-1949), chỉ đạo hoạt động tình báo Mỹ ở Trung Quốc, Ân Độ và Myanma; Trưởng phòng quân báo Sư đoàn 3, Tập đoàn quân 3 trong chiến tranh Triều Tiên (1950-1953); Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ về tài chính (1954-1957); tốt nghiệp Học viện quân sự cao cấp (1958); Tư lệnh Sư đoàn 6 Mỹ trong thành phần lực lượng NATO ở Châu Âu (1958-1959); Tham mưu trưởng lục quân Mỹ ở Tây Âu (1960-1961); Cục trưởng Cục Quân pháp – Bộ Quốc phòng Mỹ (1961-1964). Tư lệnh Sư đoàn bộ binh 25 Mỹ ở miền Nam Việt Nam kiêm trưởng đoàn cố vấn quân sự Mỹ tại Vùng chiến thuật III của ngụy quân Sài Gòn (1965-1967); Chỉ huy trưởng lực lượng quân tiếp vụ Mỹ (hậu cần) ở miền Nam Việt Nam (1968); Cố vấn cho đại sứ Mỹ Henry Cabot Lodge tại cuộc đàm phán hòa bình ở Paris (1969 -1970); Phó tổng tư lệnh các lực lượng viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam (1970-1972); Tổng tư lệnh các lực lương viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam (1972-1973).; Tham mưu trưởng lục quân Mỹ (1973-1975).
– Đô đốc hải quân Elmo Zumwalt (1920 – 2000); Tốt nghiệp khoa Hàng hải – Đại học kỹ thuật Texas (1942); thuyền trưởng các tàu khu trục USS Phelps và USS Robinson chiến đấu tại mặt trận Trái Bình Dương trong Chiến tranh thế giới thứ II (1942-1947); Trưởng phòng Đào tạo Trường đại học Hải quân Bắc Carolina (1948-1950); Thuyền trưởng tàu khu trục USS Wisconsin tham gia Chiến tranh Triều Tiên (1950-1952); Tốt nghiệp Học việc cao cấp hải quân Mỹ Newport (1953); Tư lệnh lực lượng phòng thủ bờ biển phía Tây nước Mỹ (1953-1955); Thuyền trưởng tàu khu trục USS Arnold J. Isbell (1955-1957); Trợ lý đặc biệt của Bộ trưởng Hải quân Mỹ (1957-1959); Chủ nhiệm chường trình sản xuất tàu khu trục tên lửa đầu tiên của Mỹ USS Dewey (DLG-14) (1959-1960); Tốt nghiệp Học viện Quân sự Quốc gia, Washington DC (1961-1962); Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ phụ trách hải quân (1962-1963); Phụ tá cao cáp của Bộ trưởng Hải quân Mỹ Paul H. Nitze (1963-1965); Phó đo đốc, Tư lệnh lực lượng Hải quân Mỹ ở Biển Đông trong Chiến tranh Việt Nam (1965-1968); Đô đốc, Trưởng ban Hải quân trong Bộ Tư lệnh quân viễn chinh Mỹ ở miền Nam Việt Nam kiêm Trưởng ban cải cách Hải quân Mỹ (1969-1971); Trưởng ban nhân sự của Bộ Hải quân Mỹ đến khi giải ngũ (1972-1974).
– Đại tướng không quân William Wallace Momyer (1916-2012); Tốt nghiệp các trường không quân Randolph (1938) và Kelly (1939); Đại tá, phi đoàn trưởng phi đoàn cường kích FG-33 trang bị máy bay P-40FS trên tàu sân bay USS Chanango tham chiến tại Bắc Phi và Nam Ý (1942-1943); Trưởng ban điều phối hoạt động của Không lực Mỹ thuộc Bộ Quốc phòng (1944-1945); Trưởng phòng tác chiến Bộ Tư lệnh không quân chiến thuật Mỹ (TAC) từ 1946 đến 1949; Tốt nghiệp Học viện hàng không cao cấp (1953); Tư lệnh Sư đoàn 8 không quân Mỹ trong Chiến tranh Triều Tiên (1953-1954); Tư lệnh Sư đoàn không quân hỗn hợp Mỹ số 314 đóng ở Nam Triều Tiên (1954-1955); Tư lệnh Sư đoàn không quân hỗn hợp Mỹ số 312 đóng ở Căn cứ không quân Clovis, bang New Mexico (1955-1957); Tư lệnh Sư đoàn không quân 832 tại Căn cứ không quân Nellis, bang Nevada (1957-1958); Trợ lý kế hoạch tác chiến Bộ Chỉ huy không quân chiến thuật Mỹ (TAC) từ 1958 đến 1961; Thiếu tướng, Phó trưởng ban tác chiến của Bộ Tư lệnh không quân chiến thuật Mỹ (1961-1964); Chánh Văn phòng Bộ Tư lệnh Không quân chiến thuật Mỹ (TAC) từ 1964 đến 1965; Trung tướng, Phó tư lệnh không quân chiến thuật Mỹ kiêm Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy không quân chiến thuật Mỹ ở Đông Nam Á, tham chiến ở Việt Nam (1965- 1968); Đại tướng, Tư lệnh không quân chiến thuật Mỹ (1969-1973).
– Đô đốc John S. McCain Jr. (McCain “cha”) (1911-1981), cha đẻ chiến thuật “Sói đơn độc” của Hải quân tàu ngầm Mỹ; Tốt nghiệp Học viện Hải quân Mỹ (1931); Thuyền trưởng các tàu ngầm S-45 và R-13 (1931-1937); Giảng viên chuyên khoa “Điện tàu” của Học viện Hải quân Mỹ (1938-1940); Thuyền trưởng tàu ngầm huấn luyện O-8 (1940-1941); Chỉ huy tàu ngầm Gunnel tham chiến ở Bắc Phi (1941-1943) và Tây Thái Bình Dương (1944-1945); Trưởng ban Hồ sơ của Cục Nhân sự thuộc Bộ Tư lệnh Hải quân Mỹ (1945-1949); Tư lệnh Sư đoàn tàu ngầm 71 thuộc Hạm đội 7, tham gia giai đoạn đầu chiến tranh Triều Tiên (1949-1950); Giám đốc Cơ quan nghiên cứu chiến thuật hải chiến tàu ngầm thuộc Bộ Tư lệnh Hải quân Mỹ (1951-1954); Giám đốc cơ quan Tình báo Hải quân Mỹ (1955-1957); Chỉ huy tuần dương hạm hạng nặng Albany (1957-1958); Chuẩn đô đốc, Chánh Văn phòng Bộ tư lệnh hải quân Mỹ (1958-1960); Tư lệnh Hạm đội Bắc Đại Tây Dương (1960-1962); Trưởng ban tình báo Bộ Tư lệnh hải quân Mỹ (1962-1963); Phó đô đốc, Tư lệnh Hạm đội Bắc Đại Tây Dương (lần 2, 1963-1965); Ra khỏi hải quân, giữ chức vụ Trưởng ban Hải quân thuộc Ủy ban quân vụ Thượng nghị viện Mỹ (1965-1966); Trở lại Hải quân Mỹ, Đô đốc, Tổng tư lệnh Hải quân Mỹ kiêm Tư lệnh Bộ Chỉ huy khu vực Thái Bình Dương (CINCPAC) từ năm 1967 đến 1972; Trưởng đoàn kiểm tra quân sự của Bộ Quốc phòng Mỹ tại miền Nam Việt Nam (1969); Chủ xướng kế hoạch tấn công của Mỹ-ngụy sang Campuchia (1970); Chủ xướng kế hoạch tấn công của Mỹ-ngụy sang Lào (Lam Sơn 719, 1971); Chủ xướng vạch kế hoạch chiến dịch Linerbacker tấn công miền Bắc Việt Nam bằng không quân và hải quân Mỹ lần thứ 2 (1972). Nghỉ hưu ngày 1-11-1972.
– Đô đốc hải quân George Stephen Morrison (1919-2008); Tốt nghiệp Học viện Hải quân Mỹ năm 1941, tham gia trận Trân Châu Cảng (7-12-1941); Tốt nghiệp Trường Không quân thuộc Hải quân năm 1943, tham gia Chiến tranh Thái Bình Dương (1943-1945); Chỉ huy trưởng tàu sân bay USS Bon Homme Richard thuộc lớp Essex, Phó đô đốc, chỉ huy Phân hạm đội số 3 của Hạm đội 7 Mỹ tại Biển Đông Việt Nam (1963-1965), là một trong những người gây ra Sự kiện Vịnh Bắc Bộ (5-8-1964), Đô đốc, Tư lệnh lực lượng đặc nhiệm 77 của Hải quân Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam (1966-1972). Tư lệnh Hải quân Mỹ (1973-1975).
3- Chiến tranh nhân dân vẫn là yếu tố quyết định.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp không bao giờ nhìn nhận thành công trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ như công lao chỉ của riêng mình. Theo Đại tướng, công lao ấy thuộc về nhân dân Việt Nam, thuộc về đông đảo sĩ quan, chiến sĩ trong Quân đội Nhân dân Việt Nam mà ông chỉ là một trong số đó. Cũng theo Đại tướng, Việt Nam sở dĩ đánh thắng nhiều đội quân xâm lược từ cổ đại đến hiện đại là do vận dụng linh hoạt “Học thuyết Chiến tranh nhân dân chống ngoại xâm”. Về chiến thắng Điện Biên Phủ, Đại tướng nói:
“Chiến thắng tại Điện Biên Phủ là chiến thắng dành cho nhân dân. Tuy nhiên khái niệm chiến tranh nhân dân và chiến tranh du kích là khác nhau dù chúng không hoàn toàn tách biệt. Trong trường hợp này, chính cuộc chiến của nhân dân đã đem lại chiến thắng. Và chiến tranh du kích là một khía cạnh của cuộc chiến tranh nhân dân đó. Cái này khá phức tạp… Vậy chiến tranh nhân dân là gì ? Nếu gói gọn trong một cụm từ, đó là “cuộc chiến vì dân và do dân”, trong khi chiến tranh du kích đơn giản là phương pháp chiến đấu. Về mặt khái niệm, chiến tranh nhân dân có tính toàn cầu hơn. Đó là một khái niệm tổng hợp. Một cuộc chiến đồng thời là quân sự, kinh tế và chính trị… Có song song chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy quy mô lớn tiến hành bằng các đơn vị lớn.”
Phân tích về “Chiến tranh nhân dân” Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho rằng:
“Đó là “cuộc chiến vì dân do dân”. Ở đây vì dân là vì mục tiêu chiến tranh là mục tiêu của nhân dân, như là độc lập, thống nhất đất nước, và hạnh phúc cho mọi người… Còn do dân nghĩa là thường dân, không chỉ là quân đội mà bao gồm tất cả người dân. Chúng tôi biết rằng chính nhân tố con người chứ không phải các nguồn lực vật chất quyết định kết quả của cuộc chiến. Đó là lý do vì sao mà cuộc chiến nhân dân của chúng tôi, do Hồ Chí Minh lãnh đạo, lại diễn ra trên một quy mô lớn như vậy. Nó lôi cuốn sự tham gia của toàn thể dân chúng.”
Đại tướng đã phân tích sự phát triển của “Học thuyết Chiến tranh nhân dân chống ngoại xâm của Việt Nam” trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước:
“Người Pháp rồi người Mỹ đã đánh giá thấp sức mạnh của chúng tôi. Họ có vũ khí tốt hơn cùng với tiềm lực quân sự và kinh tế khổng lồ. Họ không mảy may nghi ngờ chiến thắng sẽ thuộc về họ. Nhưng ngay khi người Pháp tin rằng họ bên bờ chiến thắng, thì mọi thứ sụp đổ quanh họ.. Điều tương tự xảy đến với người Mỹ vào mùa Xuân năm 1968. Ngay lúc Washington chuẩn bị tuyên bố chiến thắng ở miền Nam Việt Nam, người Mỹ bỗng nhiên thấy những mong đợi của họ tan vỡ. Vì sao ? Bởi vì họ chống lại không phải chỉ một đội quân mà cả một dân tộc – toàn thể dân tộc. Do vậy bài học rút ra là cho dù tiềm lực quân sự và kinh tế của đối phương của anh lớn đến nhường nào thì nó vẫn không bao giờ đủ lớn để đánh bại một dân tộc đoàn kết trong cuộc đấu tranh cho các quyền cơ bản. Đó là những gì chúng tôi học được từ những điều kể trên.”
Nói về nguồn gốc của “Học thuyết Chiến tranh nhân dân chống ngoại xâm” của Việt Nam, Đại tướng nhận xét:
“Trong suốt chiều dài lịch sử của chúng tôi, hễ khi nào chúng tôi cảm thấy mình bị kẻ thù đe dọa, nhân dân chúng tôi lại siết chặt hàng ngũ. Hàng triệu người đoàn kết lại, kêu gọi “Thống nhất trên tất cả”, “Chiến thắng trên tất cả”… Mặt trận Giải phóng Dân tộc miền Nam Việt Nam giành chiến thắng vì Mặt trận đã nỗ lực đoàn kết hầu hết người dân và vì chính trị của nó là chính nghĩa.
Ngay cả khi hải, lục, không quân Mỹ cùng trực tiếp tham chiến ở Việt Nam thì đây vẫn là chiến tranh nhân dân. Mà chiến lược của chiến tranh nhân dân thì không chỉ gồm quân sự. Luôn có khía cạnh tổng hợp trong chiến lược này. Chiến lược của chúng tôi bao gồm đồng thời các mặt quân sự, chính trị, kinh tế và ngoại giao, mặc dù yếu tố quân sự là yếu tố quan trọng nhất. Trong thời chiến, anh phải bắt đầu từ đối phương, phải nắm rõ kẻ thù. Khi kẻ thù thay đổi chiến lược chiến thuật, anh phải làm tương tự.. Khi quân Mỹ cố gắng áp dụng chiến thuật “tìm và diệt”, chúng tôi đối phó bằng chiến thuật riêng khiến cho mục tiêu của chúng không đạt được còn bản thân chúng thì bị tiêu diệt. Chúng tôi phải buộc quân thù đánh theo cách chúng tôi muốn. Chúng tôi buộc đối phương chiến đấu trên địa bàn không quen thuộc.”
Đại tướng Võ nguyên Giáp cho rằng muốn khai thác triệt để tính ưu việt của “Học thuyết Chiến tranh nhân dân”, cái cốt yếu là sự đoàn kết bên trong và bên ngoài:
“Thực tế lịch sử dạy cho chúng tôi rằng không phải cứ là lực lượng quân sự kinh tế mạnh mẽ nhất thì sẽ chiến thắng được cuộc kháng chiến của một dân tộc đoàn kết, đại đoàn kết trong cuộc đấu tranh vì các quyền quốc tế của mình. Vẫn có giới hạn đối với sức mạnh của họ. Ngay từ đầu, dù là ở nước xã hội chủ nghĩa hay tư bản, mọi thứ anh làm vì lợi ích của nhân dân sẽ đem lại cho anh lợi thế. Trong khi những thứ đi ngược lại lợi ích của nhân dân rốt cuộc sẽ phản lại chính anh. Chúng tôi là người chiến thắng và người Mỹ thất bại, nhưng tôi muốn làm rõ điều này. Cái gì làm nên chiến thắng ? Nhân dân Việt Nam không bao giờ muốn chiến tranh; họ muốn hòa bình. Người Mỹ có muốn chiến tranh không ? Không ! Họ cũng muốn hòa bình. Vì vậy chiến thắng này là chiến thắng dành cho những người dân ở Việt Nam và Hoa Kỳ mong muốn hòa bình. Vậy thì ai đã bị đánh bại ? Những kẻ theo đuổi xâm lược bằng mọi giá. Và đó cũng là lý do chúng tôi vẫn làm bạn với nhân dân Pháp và không bao giờ cảm thấy thù địch với nhân dân Mỹ cả…”
Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người phát minh ra “Chiến tranh nhân dân” ở Việt Nam chính là nhân dân Việt Nam:
“Ai đã phát minh ra ý tưởng Chiến tranh Nhân dân ư ? Ban đầu đó là sản phẩm của tinh thần sáng tạo của quần chúng. Cho phép tôi được nói về truyền thuyết Phù Đổng mà người dân Việt nào cũng biết. Truyền thuyết đó có từ thời tiền sử. Quân thù sắp xâm lăng và có một cậu bé 3 tuổi tên Phù Đổng lớn nhanh như thổi, cưỡi lên ngựa sắt và nhổ tre làm vũ khí, tập hợp mọi người lại đánh giặc. Nông dân, ngư dân, mọi người đáp lại lời kêu gọi của Phù Đổng và họ đã chiến thắng trong cuộc chiến tranh. Truyền thuyết này phản ánh thực chất trong tư tưởng nhân dân. Như vậy, chiến tranh nhân dân đã tồn tại ngay trong truyền thuyết, và vẫn còn bên chúng tôi trong các thế kỷ…”
Nói về tính đặc sắc dân tộc của “Học thuyết Chiến tranh Nhân dân” của Việt Nam, Đai tướng Võ Nguyên Giáp cho rằng:
“Với tư cách sử gia, tôi sẽ nói rằng trường hợp Việt Nam là hiếm. Với tư cách một quốc gia, Việt Nam đã được hình thành từ rất sớm. Về lý thuyết, người ta nói rằng một quốc gia chỉ có thể hình thành sau khi xuất hiện chủ nghĩa tư bản… Nhưng nước chúng tôi hình thành rất sớm, trước cả Công nguyên. Vì sao ? Bởi lẽ nguy cơ xâm lược từ các thế lực bên ngoài đã liên kết các bộ lạc khác nhau lại với nhau. Và rồi lại có cuộc chiến thường trực chống lại các yếu tố khắc nhiệt, như mùa đông… Trong các truyền thuyết của chúng tôi, cuộc đấu tranh này được coi là một yếu tố thống nhất, một sức mạnh cố kết dân tộc. Yếu tố này cùng với nguy cơ thường trực bị xâm lược đã tạo ra sự gắn kết lớn hơn nữa và tạo ra một truyền thống mang lại cho chúng tôi sức mạnh. Nhân dân Việt Nam nói chung có xu hướng lạc quan. Vì sao vậy ? Nguyên nhân là họ đã đối diện với các bất định trong hàng ngàn năm, và trong hàng ngàn năm ấy họ đã vượt qua được các thách thức đó”.
Nói về việc phát huy sức mạnh của nhân dân trong công cuộc xây dựng đất nước trước những khó khăn khi Liên Xô và khối XHCN Đông Âu sụp đổ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã lại khẳng định rằng Việt Nam, do có những cách đi riêng của mình sẽ khắc phục được những khó khăn đó và không bao giờ đi vào vết xe đổ của Liên Xô và Đông Âu:
“Chiến tranh Nhân dân ở Việt Nam đã có từ trước khi chủ nghĩa Marx-Lenin du nhập vào đây. Tất nhiên học thuyết Marx-Lenin có đóng góp vào Chiến tranh Nhân dân Việt Nam. Khi Liên Xô sụp đổ, chúng tôi dự đoán 60-80% ngân sách xuất nhập khẩu của chúng tôi sẽ bị mất đi do chúng tôi phụ thuộc vào viện trợ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác. Do vậy người ta dự báo Việt Nam sẽ sụp đổ. Thế nhưng, chúng tôi vẫn trụ vững và từng bước tiến lên. Khi được hỏi tôi nghĩ sao về Perestroika (cải tổ ở Liên Xô), tôi trả lời rằng tôi nhất trí với sự thay đổi… Nhưng Perestroika là từ tiếng Nga, dành cho người Nga. Ở đây chúng tôi làm mọi việc theo cách của người Việt Nam. Chúng tôi tận dụng các niềm hy vọng của Nga, Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Anh quốc… nhưng chúng tôi cố gắng đồng hóa tất thảy các hy vọng đó.
Như tôi đã đề cập, dân tộc Việt Nam có tinh thần độc lập, thậm chí là hơi ương bướng nữa, ý tôi là làm những thứ theo kiểu của Việt Nam. Hiện giờ, chúng tôi có kế hoạch vận động nhân dân đấu tranh chống lạc hậu và nghèo khó. Còn đó các vấn đề chiến tranh và hòa bình, có những quy luật cụ thể, quy luật xã hôi, quy luật lớn vẫn giữ giá trị dù thời bình hay chiến tranh. Anh phải thực tế, phải có mục tiêu, phải sử dụng thực tiễn làm phương tiện phân tích các quy luật khách quan chi phối những thứ đó. Để chiến thắng, anh phải hành động theo các quy luật này. Nếu làm ngược lại, anh sẽ là chủ quan và sẽ nhất định thất bại. Như vậy, chúng tôi học từ kinh nghiệm, cả xấu lẫn tốt, của chủ nghĩa tư bản. Nhưng chúng tôi có ý tưởng riêng kiểu Việt Nam về những vấn đề này.
Cuối cùng, phải nói thêm rằng chúng tôi vẫn muốn độc lập, và chúng tôi sẽ theo con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra cho chúng tôi, con đường độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội là gì? Là độc lập và thống nhất cho Tổ quốc, là tự do và hạnh phúc cho nhân dân, là hòa bình và hữu nghị giữa người với người.”
—————————-
Trong bài có sử dụng tư liệu từ cuộc phỏng vấn Đại tướng Võ Nguyên Giáp năm 1994 của phóng viên hãng truyền hình mạng PBS của Mỹ nhân chuyến thăm Việt Nam của cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara.

10 Comments

Add a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *