KỶ NIỆM 63 NĂM CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ

KỶ NIỆM 63 NĂM CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ
KỲ IV: HẬU ĐIỆN BIÊN PHỦ, NGƯỜI PHÁP ĐI TÌM KẺ GIƠ ĐẦU CHỊU BÁNG.
Thất bại ở Điện Biên Phủ gây một cú sốc lớn cho chính quyền Pháp tới mức chính phủ của thủ tướng Josèp Lanielle sụp đổ ngay sau khi nước Pháp được tin thất trận ở Điện Biên Phủ. Chính phủ cánh tả của Thượng nghị sĩ Mandes France thay thế.
Người Pháp đã hứng chịu một sang chấn tâm lý nặng nề sau thất bại ở Điện Biên Phủ, họ đã lập ra một Ủy ban điều tra cấp cao nhưng rồi không dám công bố cho công luận Pháp biết các kết quả của Ủy ban điều tra đó. Như trong bức thư của Bộ trưởng Quốc phòng Pháp thời đó, ông Billotte gửi cho Thủ tướng Pháp khi đó là Mendes France thì “vì ảnh hưởng to lớn của báo cáo này đến xã hội Pháp, tài liệu này phải được xếp vào dạng tuyệt mật”. Và thực tế là người Pháp đã giữ bí mật tài liệu này trong suốt 50 năm, nhiều tướng lĩnh cấp thấp cũng không được biết đến trong thời gian dài. Đến năm 2005, khi thời hạn bảo mật hết, người dân Pháp mới có thể biết đến những tài liệu này. Nó không những hé lộ các bí mật ở cấp cao nhất của cuộc chiến mà quân đội Pháp tiến hành ở Đông Dương, đặc biệt là ở Điện Biên Phủ mà còn hé lộ cả một trạng thái tâm lý mất phương hướng của giới chức chính trị và quân đội Pháp thời đó.
Đại tướng Georges Catroux, Tổng thanh tra quân đội Pháp được Chính phủ Pháp chỉ định làm Chủ tịch ủy ban điều tra. Ủy ban này đã thực hiện tất cả 22 phiên điều trần đối với các tướng Henry Navarre, René Cogny, Christiane De Castries và một số sĩ quan trung – cao cấp khác. Và người Pháp bắt đầu đi tìm câu trả lời cho câu hỏi luôn ám ảnh họ: “Pourquoi Dien Bien Phu ?” (Tại sao Điện Biên Phủ ?)
1- Sau đây là trích dẫn một số đoạn trong phiên điều trần của tướng Henry Navarre:
“+ Tướng Georges Catroux: Đại tướng Navarre, ông đã mong muốn có một phiên họp của Ủy ban điều tra và hôm nay ủy ban đã họp. Vậy trước hết bắt đầu với câu hỏi đầu tiên trong danh sách. Đó là “việc được bổ nhiệm làm Tổng tư lệnh quân Pháp ở Đông Dương với mục đích là “tìm một lối ra trong danh dự cho quân Pháp” với ông chắc hẳn là một điều không trông đợi. Vậy khi đó ông cảm thấy thế nào? Liệu ông đã phần nào do dự ?
– Tướng Henry Navarre: Khi đó, vào tháng 5 năm 1953, tôi đang là Tham mưu trưởng lục quân NATO tại Trung Âu và thời điểm ấy, tôi đang có mặt tại Đức. Đột nhiên, tôi bị gọi về Paris. Và tướng Juin, khi gặp tôi ở Paris đã thông báo rằng tôi được bổ nhiệm làm Tổng tư lệnh quân đội Pháp ở Đông Dương… Ông ấy không giấu giếm rằng tôi sắp được đưa vào một cuộc phiêu lưu nguy hiểm nhưng cũng nói rõ với tôi rằng khó có thể từ chối bởi “cần có một người nắm giữ vị trí này”. Ngày hôm sau, khi gặp Thủ tướng Rene Mayer, tôi đã nhấn mạnh rằng tôi không biết chút nào về Đông Dương và Viễn Đông, nơi mà tôi chưa bao giờ đặt chân tới. Nhưng ông Mayer đã nói rằng đó lại là lý do ông ấy chọn tôi, bởi tôi có thể nhìn nhận mọi thứ với một cái nhìn mới.”
Tiếp đó, Henry Navarre đi sâu vào các vấn đề mà ông ta bị buộc tội: Đó là việc đưa ra kế hoạch mang tên “Navarre” lựa chọn tấn công vào cứ điểm Điện Biên Phủ; sự lạc quan đối với khả năng chiến thắng ở Điện Biên Phủ; việc thiếu thông tin về đối thủ cũng như nhận định sai về thực lực của quân Pháp trước trận Điện Biên Phủ.
“+Tướng Georges Catroux: Ông hãy cho biết về sự thiếu thông tin của đối thủ của quân đội Pháp. Phải chăng, ông đã không được bàn giao đầy đủ ?
– Tướng Henry Navarre: Khi đến Đông Dương, tôi đã phần nào bị ảnh hưởng bởi tâm lý lạc quan ngự trị vào thời điểm đó. Sau đó tôi đã dần dần cảm thấy sự lạc quan là sai lầm nhưng vẫn không tránh khỏi bị ảnh hưởng trong kế hoạch tấn công Điện Biên Phủ của tôi. Khi tôi hỏi tướng Salan là có bao nhiêu quân Việt Minh ở Bắc Bộ ? Ông ấy đã đưa ra con số 40.000. Vài ngày sau, người phụ trách Deuxième Bureau (Phòng Nhì, cơ quan tình báo đối ngoại của Quân đội Pháp) cho tôi con số 60.000. Tôi đã nói với ông ta về con số lạc quan hơn của tướng Salan. Nhưng người phụ trách Deuxième Bureau nói rõ 60.000. Theo ông ta thì đó là con số tối thiểu. Thực tế, đã có từ 70.000 đến 75.000 quân Việt Minh có mặt ở Bắc Bộ.
+ Tướng George Castroux: Vì sao ông lại không được người tiền nhiệm cung cấp đủ thông tin ?
– Tướng Henry Navarre: Ngay khi tới Đông Dương, tôi cảm nhận rằng tướng Salan không mấy vui vẻ khi tiếp tôi. Ba ngày sau khi tôi tiếp quản tại Đông Dương, có một bức điện của ông Bodard, phóng viên thường trú của tạp chí France-Soir, nêu rõ tình hình ở Đông Dương đang nguy kịch bởi tướng Raul Salan đã không có ý tưởng và tôi sẽ phải là người triển khai. Tướng Salan đã không hài lòng và bức điện đó phần nào gây căng thẳng quan hệ giữa chúng tôi. Tướng Salan đã đưa cho tôi một số tài liệu, trong đó có kế hoạch của ông ấy mà sau này tôi dựa vào đó để đưa ra kế hoạch của tôi.
+ Tướng George Castroux: Vậy các ông tự hành động hay có chỉ đạo nào từ trước đó của chính phủ ?
– Tướng Henry Navarre: Tướng Salan không hề trao cho tôi bất kỳ môt văn bản chỉ đạo nào của chính phủ. Mãi đến tận hôm nay, tôi mới biết rằng có một chỉ đạo của Thủ tướng Rene Mayer vào ngày 18-4-1953.
+ Tướng George Castroux: Nhận định của ông về thực lực của quân Pháp ở Điện Biên Phủ ?
– Tướng Henry Navarre: Ngay lúc đó, tôi đã nghi ngờ về việc các đơn vị của ta có thể giữ được Điện Biên Phủ. Các quân nhân Pháp chỉ có thể tác chiến trong cái ô yểm hộ của pháo binh và không quân. Nếu đi xa quá 10 km khỏi tầm pháo, họ sẽ bị Việt Minh đánh bại. Chính vì vậy mà khi lên thị sát Điện Biên Phủ lần cuối vào tháng 3 năm 1954, tôi đã đề nghị với tướng De Castries là nên tăng thêm quân.
+ Tướng George Castroux: Vậy tướng De Castries có đồng ý với ông không.
– Tướng Haenrry Navarre: Ông ta không đồng ý. Ông ta phản đối với lý do là các căn cứ ở Điện Biên Phủ đã quá chật chội. Nếu đưa thêm quân lên thì sẽ không biết nhét vào đâu.
+ Tướng George Castroux: Ông đánh giá thế nào về khả năng can thiệp của người Mỹ ?
– Tướng Henry Navarre: Ở vào thời điểm tôi đến Đông Dương, tuyệt đối chưa có ý kiến nào về việc đó. Có chăng chỉ có vài giả thuyết về việc Mỹ can thiệp khi quân đội Trung Quốc can thiệp hay có chăng cũng chỉ là sự hỗ trợ của Mỹ về tài chính, vũ khí, hay tàu sân bay trong trường hợp khẩn cấp, còn về sự can thiệp quân sự của Mỹ thì chưa được nói đến.
+ Tướng George Castroux: Hồi đó không ai nghĩ rằng có thể tạo lối thoát khỏi Đông Dương mà không phải tiến hành một trận đánh lớn ư ?
– Tướng Henry Navarre: Chắc chắc là không. Tôi tin rằng ở vào thời điểm tôi tới đó, không ai nghi ngờ khả năng chiến thắng ở Đông Dương. Tôi tin rằng chính phủ Pháp muốn tìm một lối ra cho phép, hoặc là thương lượng với ông Hồ Chí Minh, hoặc có được sự nhất trí của Trung Quốc ngừng giúp quân Việt Minh; hay khả năng thương lượng với hai chính phủ ở Việt nam. Có một số lối thoát nhưng giải pháp Mỹ tấn công quân sự thì hoàn toàn không được nói đến khi đó.
+ Tướng George Castroux: Vậy thì phải đến khi diễn ra trận Điện Biên Phủ, thì khả năng Mỹ tấn công giải cứu mới được nghiên cứu đến ?
– Tướng Henry Navarre: Đúng là khả năng Mỹ can thiệp quân sự chỉ được nghiên cứu vào thời điểm trận Điện Biên Phủ đã diễn ra.”
2- Các phiên điều trần và khiếu kiện của tướng René Cogny:
Sau tướng Navarre, đến lượt tướng René Cogny phải ra điều trần. Đối với tướng Réné Cogny, chỉ huy quân Pháp tại Bắc Bộ, cấp phó của Tổng tư lệnh Navarre thì câu hỏi chính và cũng là đòi hỏi của Cogny là yêu cầu Ủy ban điều tra làm sáng tỏ bất đồng giữa ông ta và Navarre. Lời khẳng định của Navarre về việc không có sự bất đồng này có mặt trong hầu hết các nội dung được điều trần. Henry Navarre nhấn mạnh rằng mỗi vấn đề trong kế hoạch tấn công cứ điểm Điện Biên Phủ ông ta đều bàn bạc với Cogny cũng như chỉ huy không quân và chỉ huy lực lượng bộ binh của Pháp tại Đông Dương. Lập luận này của tướng Navarre khác biệt so với lời chỉ trích của tướng Cogny rằng ông ta không đồng ý với kế hoạch của Navarre từ đầu. Thậm chí, tướng Cogny còn tập hợp bộ hồ sơ có tên “Bất đồng về Điện Biên Phủ”, trong đó có các tài liệu, các bài báo, các quyết định để trình lên Ủy ban điều tra lý giải rằng ông “vô can” trong kế hoạch của Navarre. Tuy nhiên, Ủy ban điều tra đi sâu vào chất vấn tướng Cogny với cáo buộc rằng ông ta đã không truyền đạt đúng mệnh lệnh của Tổng tư lệnh Navarre đến cấp dưới, hay có lúc còn vượt cấp, ra chỉ thị trước cả chỉ thị của tổng tư lệnh.
Thay vì trả lời các câu hỏi của Ủy ban điều tra, tướng René Cogny gửi báo cáo khiếu nại của mình đến Ủy ban. Ông ta mở đầu bản báo cáo bằng lời đề nghị làm rõ bất đồng giữa ông ta và Navarre: “Tôi đã bị tướng Navarre, nguyên Tổng tư lệnh ở Đông Dương cáo buộc trong những tuyên bố mới đây của ông ta trong bài phỏng vấn trên tờ “Jours de France” ngày 20-1-1955 và nhiều tờ nhật báo khác đã đăng lại.” Tuy nhiên, trong các phiên điều trần, tướng René Cogny đã trả lời một số câu hỏi của tướng Georges Catroux và cũng không trả lời được một số câu hỏi về trách nhiệm cá nhân.
+ Tướng Georges Catroux: Ông có đồng ý với chủ kiến của tướng Henry Navarre đưa quân chiếm đóng Điện Biên Phủ không ?
– Tướng René Cogny: Tôi đồng ý với ông ta là cần đưa quân lên Điện Biên Phủ nhưng tôi có quan điểm khác về mục tiêu này.
+Tướng Georges Catroux: Ông thử nói rõ hơn xem.
– Tướng René Cogny: Tôi cho rằng Điện Biên Phủ chỉ như một thứ khâu nối cho các hành động quân sự – chính trị ở khu vực của người Thái (dân tộc Thái) trong chuỗi căn cứ Nà Sản, Điện Biên, Lai Châu và Mường Sài. Còn ông Navarre thì lại cho rằng Điện Biên Phủ cần trở thành “con nhím lớn” ở Đông Dương. Tôi không đồng ý với chủ trương đó.
+ Tướng Georges Catroux: Và ông đã phản đối việc tăng quân cho GONO ở Điện Biên Phủ ?
– Tướng René Cogny: Đúng vậy ! Dựa trên những đặc điểm của đối phương, tôi cực lực phản đối vì trên thực tế, nó trở thành một vực thẳm của những tiểu đoàn thiếu những lợi ích chiến lược. Chính vì nghĩ như thế, tôi đã thiết kế trận Nà Sản. Nếu như ban đầu tướng Navarre chia sẻ quan điểm với tôi và thậm chí cho phép tôi rút khỏi Nà Sản, thì ý tưởng về một cứ điểm ngày càng xuất hiện trong chiến lược của ông ta. Rồi đến một ngày, ông ấy nảy ra ý tưởng và đặt cược toàn bộ số phận của chiến dịch này và của cả Đông Dương, vào một sự kháng cự của một trận “Nà Sản mới” mà không tính đến một khả năng hành động nào khác.
+ Tướng Georges Catroux: Vì lý do gì ?
– Tướng René Cogny: Tôi thấy có mấy lý do. Một là việc đưa thêm quân lên Điện Biên Phủ sẽ làm yếu vùng Đông bằng Bắc Bộ. Mà Đồng bằng Bắc Bộ mới là địa bàn chiến lược tối quan trọng, thậm chí còn quan trọng hơn cả Thượng Lào. Hai là để bảo vệ Thượng Lào, cần có cả một phòng tuyến từ Lai Châu qua Điện Biên Phủ rồi dọc theo sông Nậm Hu sang Mường Sài. Một tập đoàn cứ điểm như Điệt Biên Phủ không đủ sức làm điều đó. Ba là Điện Biên Phủ quá xa xôi, chỉ có thể tiếp vận bằng đường không mà khả năng của chúng ta thì có hạn.
+ Tướng Georges Catroux: Nhưng sau đó, ông vẫn đưa quân tăng viện cho Điện Biên Phủ ?
– Tướng René Cogny: Tôi chỉ làm theo mệnh lệnh. Tổng tư lệnh trả lời tôi ngày 24-4, chia sẻ ý kiến của tôi về tình hình bi đát ở Điện Biên Phủ cũng như về kết quả tồi tệ của chiến dịch “Condor”. Ông ta nhấn mạnh rằng việc thiếu các phương tiện không quân “không phụ thuộc vào ông ấy”. Ông ấy đã ra lệnh cho tôi ném thêm một tiểu đoàn xuống Điện Biên Phủ vào ngày 1-5. Cùng ngày, tôi đã hồi đáp ngay rằng nếu việc tăng viện bằng không quân không phụ thuộc vào ông ta, thì ông ta cũng sẽ không thể làm gì được với các hành động ở phía Nam đồng bằng Bắc Bộ. Và ông ta đã không có câu trả lời.
+ Tướng Georges Catroux: Tại sao việc tiếp viện bằng không quân lại khó khăn như vậy ?
– Tướng René Cogny: Như tôi đã trình bày, khả năng của không quân ta ở Bắc Đông Dương là có hạn. Tất cả chỉ có 91 máy bay vận tải. Sau khi Việt Minh tấn công các sân bay Bạch Mai, Gia Lâm và Cát Bi chỉ còn 5 chiếc Packet (C-82) và 11 chiếc Dakota (C-47) hoạt động được. Muốn không vận 1 tiểu đoàn đủ quân số và trang bị lên Điện Biên Phủ, mỗi chiếc phải bay từ 2 đến 3 chuyến trong ngày.
+ Tướng Georges Catroux: Làm thế nào mà ông lại để cho Việt Minh tấn công các sân bay của ta ?
– Tướng René Cogny: Đó là hệ quả tất yếu của việc ông Navarre điều các binh đoàn cơ động ở đồng bằng Bắc Bộ đi các nơi khác.
+ Tướng Georges Catroux: Trong Ủy ban có ý kiến cho rằng ông đã không tăng viện lớn hơn cho GONO và dó là một trong các nguyên nhân dẫn đến thất trận. Ông thấy ý kiến đó thế nào ?
– Tướng René Cogny: Đó là sự cáo buộc vô căn cứ. Vào thời điểm khai chiến ở Điện Biên Phủ. Tôi chỉ còn trong tay 3 binh đoàn cơ động (GM) ở Đồng bằng Bắc Bộ. Trước đó là 8 binh đoàn. Nếu tôi điều động dù chỉ một binh đoàn lên Điên Biên Phủ, Việt Minh có thể tấn công vào Tam giác châu Bắc Bộ bất cứ lúc nào. Thậm chí, ta có thể mất cả Hà Nội.
+ Tướng Georges Catroux: Báo chí Việt Minh đăng tin tướng De Castries giương cờ trắng ra hàng. Phải chăng ông đã cho phép anh ta làm điều đó ?
– Tướng René Cogny: Tuyệt đối không có điều đó. Tướng De Castries có yêu cầu tôi cho phép một sỹ quan tùy tùng mang cờ trắng sang đàm phán với Việt Minh để họ cho phép ta mang máy bay thả các đội y tế đến cứu chữa thương binh. Nhưng tôi cấm ông ta không được giơ cờ trắng. Việc này có tướng Pierre Bodot, chỉ huy không quân ở Đông Dương chứng kiến.
+ Tướng Georges Catroux: Nhưng ông đã nói với De Castries rằng hãy để chiến sự tự nó lụi tàn. Như vậy có phải là ông đã ngầm ra lệnh cho De Castries đầu hàng ?
– Tướng René Cogny: Tuyệt đối không phải như vậy. Tôi chỉ cho phép ngừng chống cự.
Dù cố biện minh cho mình nhưng rốt cuộc René Cogny vẫn bị Ủy ban cáo buộc rằng đã chậm trễ tăng viện cho Điện Biên Phủ. Ông ta rất bất bình vì “tự dưng” trở thành kẻ giơ đầu chịu báng. Trước sau, René Cogny vẫn khẳng định rằng chủ trương đưa quân lên Điện Biên Phủ là của Henry Navarre chứ không phải của ông ta.
3- Tướng De Castries: Tăng viện thì nhét quân vào đâu ?
Để làm rõ những mâu thuẫn giữa hai viên tướng hàng đầu trong việc chỉ huy điều hành quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương, Ủy ban điều tra đã triệu tập đại úy Jacques Allaire, người được Việt Minh trả tự do ngay trong năm 1954 với tư cách là người làm chứng.
+ Tướng Georges Catroux: Đại úy có biết về những tranh cãi giữa ông Henry Navarre và ông René Cogny không ?
– Đại úy Jacques Allaire: Thưa tướng quân ! Khi chúng tôi ở Điện Biên Phủ, rất ít người biết đến mâu thuẫn giữa hai vị tướng. Đúng ra là chúng tôi không hề biết gì. Chỉ gần đây, khi đọc các báo, thấy ông Cogny nói rất nhiều về việc này, tôi mới biết đến.
Ủy ban điều tra cũng triệu tập các sĩ quan từng là cấp dưới của tướng Navarre trong Sở chỉ huy “Soái phủ Nam Kỳ” (Tòa Thị chính Sài Gòn) và Sở chỉ huy Bắc Bộ của tướng Cogny đến để điều trần. Khi đó, tướng Georges Catroux mới vỡ lẽ rằng mâu thuẫn giữa các tướng Navarre và Cogny nghiêm trọng đến mức đội ngũ sĩ quan thân cận của họ đã bị chia thành hai phe hiềm khích nhau. Trong thời chiến, họ không dám công khai mâu thuẫn đó. Đến khi chiến tranh kết thúc, mâu thuẫn ấy dần được phơi bày. Thời gian đầu khi chiến tranh mới kết thúc, không chỉ những bài báo mà ngay cả những cuốn sách về Điện Biên Phủ cũng được viết ra bởi người của hoặc phe Navarre hoặc người của phe Cogny, với cái nhìn có chủ kiến bênh vực cho ông này hay ông kia.
Các phiên điều trần của tướng Christian De Castries diễn ra bớt căng thẳng hơn. Ít ra thì các thành viên trong Ủy ban điều tra cũng coi ông này là nạn nhân chứ không phải thủ phạm chính gây ra ”thảm họa Điện Biên Phủ”. Tuy nhiên, các câu hỏi mà Ủy ban đặt ra cho tướng De Castries không hề dễ chịu một chút nào.
+ Tướng Georges Catroux: Tại sao ban đầu ông lại từ chối việc tăng viện cho Điện Biên Phủ ? Có phải ông đã chủ quan, khinh địch không ?
– Tướng De Castries: Hoàn toàn không. Theo tin tình báo mà Deuxième Bureau ở Hà Nội cho tôi biết thì GONO chỉ cần 9 tiểu đoàn cũng đủ để đánh bại 2 sư đoàn Việt Minh.
+ Tướng Georges Catroux: Hai sư đoàn Việt Minh có binh lực tương đương 18 tiểu đoàn, gấp đôi quân số của ông. Vậy ông tin vào đâu để cho rằng mình có thể đánh bại họ ?
– Tướng De Castries : Về biên chế thì đúng như vậy. Nhưng quân số của một tiểu đoàn quân Việt Minh chỉ bằng 2/3 quân số một tiểu đoàn của tôi, nếu không nói là còn thấp hơn. Thêm vào đó, tôi có xe tăng. Họ không có. Tôi có không quân yểm hộ. Họ chỉ có cao xạ tầm thấp và số lượng ít. Tôi phòng thủ, còn họ tấn công.
+ Tướng Georges Catroux: Ông đã được đào tạo ở Trường quân sự cao cấp Saint-Syr. Vậy ông cho biết tỷ lệ binh lực tối thiểu mà bên tấn công cần có là bao nhiêu không ?
– Tướng De Castries: Câu hỏi này khá xúc phạm… Nhưng tôi vẫn nhớ. Ít nhất là 3 lần. Tuy nhiên, chỉ đến khi đã lâm trận, tôi mới biết là họ đã đưa lên đó 4 sư đoàn.
+ Tướng Catroux: Và khi đó ông đã chấp nhận đề nghị của ông Navarre đưa quân số của ông lên 12 tiểu đoàn ?
– Tướng De Castries: Đó là số quân tối đa mà các căn cứ của tôi có thể chứa được họ. Điện Biên Phủ đã quá chật chội. Vả lại việc chu cấp cho 3 tiểu đoàn bổ sung làm phát sinh những vấn đề lớn về hậu cần, hầm hào, sinh hoạt…
+ Tướng Catroux: Nhưng rốt cuộc thì GONO vẫn cần được tăng viện ?
– Tướng De Castries: Tôi cho rằng khi chiến sự nổ ra, quân tăng viện có thể nhảy dù từ máy bay sẽ nhanh chóng có mặt.
+ Tướng Catroux: Có ý kiến cho rằng ông đã không tích cực phản kích khi đối phương bao vây Điện Biên Phủ, để đối phương có thời gian và không gian tích trữ đạn dược, lương thực. Ông giải thích ra sao về ý kiến này ?
– Tướng De Castries: Ý kiến đó không đúng. Từ ngày 6-12 đến ngày 13-3-1954, chúng tôi đã huy động một nửa lực lượng của GONO vào những cuộc hành quân giải tỏa quanh Điện Biên Phủ và bị đối phương phản kích rất mạnh. Thiệu hại của chúng tôi trong thời gian đó là 32 sĩ quan, 96 hạ sĩ quan và 836 binh lính, tương đương với 10% số sĩ quan và hạ sĩ quan và 8% binh lính của GONO khi đó. Nếu số tổn thất của ta tương đương với một tiểu đoàn bộ binh thì số sĩ quan bị tổn thất lại là của hai tiểu đoàn .
+ Tướng Catroux: Những đợt tấn công mà các ông tiến hành đã có thể cho phép thâm nhập vào trận địa của quân đội Việt Minh hay các ông luôn bị chặn ở vòng ngoài.
– Tướng De Castries: Đúng là chúng tôi luôn bị chặn ở vòng ngoài. Chỉ một vài lần chúng tôi tiến ra được phía Bắc, còn phía Đông thì gần như chưa bao giờ. Tôi biết đó là nơi mà Việt Minh đã xây dựng được những con đường tiếp tế.
+ Tướng Castroux: Ông có thể mô tả những con đường đó được không ?
– Tướng De Castries: Vâng ! Họ đã làm được những con đường rất rộng rãi để xe tải Molotova có thể vận chuyển đạn dược và hàng tiếp tế. Chúng tôi chỉ nhìn thấy những con đường đó khi chúng tôi bị bắt làm tù binh.
+ Tướng Catroux: Vậy tại sao máy bay của ta lại không nhìn thấy ?
– Tướng De Castries: Vì những con đường đó được Việt Minh ngụy trang rất tốt. Theo tôi thì chỉ riêng việc làm được những con đường đó, họ cũng đã chiến thắng rồi.
+ Tướng Castroux: Có ý kiến nói rằng hỏa lực pháo binh của các ông tại Điện Biên Phủ rất mạnh nhưng đã không thể yểm hộ cho các cứ điểm. Theo ông, ai có lỗi trong việc này ?
– Tướng De Castries: Đúng là hỏa lực pháo binh của chúng mạnh ngang Việt Minh, nếu không nói là trội hơn. Chúng tôi đã tiêu thụ đến 110.000 quả đạn pháo. Nhưng tôi đã phạm phải một sai lầm khá phổ biến, đó là tin rằng hỏa lực có thể hỗ trợ tốt trong trường hợp kẻ thù hành động.
+ Tướng Catroux: Đúng là suy nghĩ sai lầm đó của ông thì tất cả mọi người khác cũng đều nghĩ như thế. Chính chỉ huy lực lượng pháo binh của ông, trung tá Piroth dường như cũng rất chắc chắn về điều đó ?
– Tướng De Castries: Trung tá Piroth đã rất tự tin. Không chỉ rất tự tin, ông ấy còn nói với tôi rằng: “Bạn thân mến, sẽ không có vấn đề gì không ổn đâu”. Và chỉ huy pháo binh của lực lượng Pháp tại Bắc bộ (F.T.N.V) còn chắc chắn hơn cả trung tá Piroth.
+ Tướng Georges Catroux: Ta quay lại vấn đề binh lực. Có ý kiến cho rằng vào thời điểm có quân số cao nhất, ông nắm trong tay 16 tiểu đoàn và vẫn để thất bại diễn ra. Ông thấy ý kiến đó thế nào ?
– Tướng De Castries: Tôi không tán thành ý kiến đó. Những tiểu đoàn được ném xuống Điện biên Phủ từ sau ngày 13-3-1954 thực chất chỉ là sự thay thế cho những tiểu đoàn đã bị tổn thất. Sao gọi là tăng viện được ?
Về điểm này, De Castries đã không nói dối. Trên thực tế, sau khi Điện Biên Phủ bị tấn công, các tướng Henry Navarre và René Cogny đã 4 lần tăng viện cho Điện Biên Phủ:
+ Ngày 16-3-1954, Tiểu đoàn Dù thuộc địa số 6 (6è BPC) do Thiếu tá Marcel Bigeard chỉ huy được điều lên Điện Biên Phủ để bù vào quân số thiếu hụt do Tiểu đoàn 3 thuộc bán Lữ đoàn lê dương số 13 (III/13è DBLE) và Tiểu đoàn 5 thuộc Trung đoàn bộ binh thuộc địa Algeria số 7 (V/7è RTA) bị Quân đội Nhân dân Việt Nam tiêu diệt tại Him Lam và Độc Lập trong các ngày 13 và 15-3-1954.
+ Ngày 4-4-1954, sau khi Tiểu đoàn bộ binh thuộc địa số 1 Marocco (I/4è RTM) bị đánh thiệt hại nặng và để mất cứ điểm C1, Tiểu đoàn bộ binh thuộc địa số 3 Algeria (III/3è RTA) bị tiêu diệt tại cứ điểm D1 và Tiểu đoàn dù số 5 người Việt (5BPV) bị tiêu diệt tại các cứ điểm E1 và E2, tướng René Cogny tiếp tục điều quân tăng viện cho Điện Biên Phủ Tiểu đoàn 2 thuộc Trung đoàn khinh binh Dù số 1 (II/1è RCP) do thiếu tá Jean Bréchignac chỉ huy để tăng cường phòng thủ tuyến sông Nậm Rốm.
+ Ngày 12-4-1954, Tiểu đoàn Dù ngoại quốc số 2 (2è BEP) do Thiếu tá Hubert Liesenfelt chỉ huy tiếp tục được điều lên tăng viện cho Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
+ Ngày 1-5-1954, dù thất bại của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ đã gần như chắc chắn nhưng tướng René Cogny vẫn tiếp tục ném xuống Mường Thanh Tiểu đoàn Dù thuộc địa số 1 (1è BPC) do Đại úy Guy Bazin de Bezons chỉ huy với hy vọng quân số còn lại của GONO sẽ mở đường máu tháo chạy sang Lào, Thực hiện Chiến dịch Albatross mà chúng ta đã biết.
Tuy nhiên, 4 tiểu đoàn này chỉ như muối bỏ bể. Nó không thể làm được một việc hết sức lớn mà trước đó, 12 tiểu đoàn và 7 đại đội của Tập đoàn cứ điểm Diện Biên Phủ (tức Cụm quân tác chiến Tây Bắc – GONO) đã không làm được. Nói như nhà sử học Pháp Bernard Fall: “Những tiểu đoàn tăng viện này chỉ là liều thuốc giảm đau và kéo dài số phận của GONO được ngày nào hay ngày đó”.
4- Kết luận: Vì Quân đội Việt Nam rất mạnh…
Báo cáo kết luận của Ủy ban điều tra gồm 6 phần, bắt đầu từ kế hoạch của tướng Navarre ở Điện Biên Phủ đến việc triển khai kế hoạch rồi vai trò và trách nhiệm chỉ huy của từng tướng lĩnh. Những kết luận của Ủy ban điều tra không quá mới mẻ so với những gì phía Việt Nam chúng ta biết trong thời gian qua, nhưng chắc chắn lại gây sốc lớn cho nước Pháp, người dân Pháp. Ủy ban điều tra kết luận rằng sự thất bại của quân đội Pháp ở Điện Biên Phủ và cả Đông Dương là một hệ quả tất yếu của một loạt các sai lầm về chính trị, quân sự trong nhiều năm. Trong 9 năm tiến hành chiến tranh với quân đội Việt Minh, nước Pháp thay đến 19 đời thủ tướng nên không có một sự tiếp nối về chính sách, trong khi giới quân đội thì chủ quan, khinh địch, không lường được hết sức mạnh và sự quyết tâm vô cùng to lớn của quân đội Việt Nam trong cuộc chiến giành độc lập dân tộc.
Riêng về thất bại ở Điện Biên Phủ, Ủy ban đã kết luận rằng tướng Henry Navarre đã phạm sai lầm chiến lược khi thiết lập cứ điểm Điện Biên Phủ bởi Điện Biên Phủ cách xa bờ biển, xa các căn cứ hậu cần của quân Pháp nên quân Pháp không được tiếp viện kịp thời. Các tướng lĩnh Pháp cũng đã đánh giá sai khả năng của pháo binh và đặc biệt là pháo phòng không của Việt Nam. Báo cáo đánh giá là hỏa lực của phía Việt Nam “đặc biệt hùng mạnh và hiệu quả” và xét về tổng thể, quân đội Việt Nam ít nhất là mạnh ngang với quân đội Pháp ở Đông Dương.
Ủy ban kết luận rằng thất bại của quân Pháp ở Điện Biên Phủ là không thể tránh khỏi. Và các tướng lĩnh khác nếu thay được vào vị trí của các tướng Navarre hay Cogny thì cũng không ai có thể làm tốt hơn. Một phần rất đáng chú ý sau đó là các kiến nghị về cách giải quyết đối với các tướng lĩnh thất bại ở Điện Biên Phủ. Tướng Henry Navarre không bị quy là thủ phạm duy nhất, sau này được phục chức Tham mưu trưởng lục quân NATO nhưng rồi cũng không được trọng dụng nên đã từ chức trong im lặng. Tướng René Cogny cũng bị khiển trách, bị đề nghị “đi tái đào tạo chuyên sâu về chiến thuật quân sự” nhưng cũng vẫn giữ được cấp hàm trung tướng. Tướng Christian De Castries cũng nghỉ hưu 4 năm sau cuộc điều trần. Ông ta rất ít khi nhắc đến Điện Biên Phủ trong quãng đời còn lại của mình.
Ảnh 1: Tướng Georges Catroux, Chủ tịch Ủy ban điều tra về thất bại của quân Pháp ở Điện Biên Phủ.
Ảnh 2: Tướng Henry Navarre, Tổng tư lệnh quân đội viễn Chinh Pháp ở Đông Dương.
Ảnh 3: Tướng René Cogny, Tư lệnh các lực lương Liên hiệp Pháp ở Bắc Đông Dương.
Ảnh 4: Tướng Raul Salan, Tổng tư lệnh quân đội viễn Chinh Pháp ở Đông Dương, người tiền nhiệm của tướng Henry Navarre.
Ảnh 5: Christian De Castries, thua trận nhưng vẫn được thăng hàm thiếu tướng (2 sao).
Ảnh 6: Tướng Cogny và tướng Navarre ở sân bay Gia Lâm.
Ảnh 7: Tướng Henry Navarre (phải) bàn kế hoạch tác chiến ở Điện Biên Phủ với tướng René Cogny (trái) và đại tá Christian De Castries (giữa).
Ảnh 8: Băng ghi âm các cuộc điều trần trước Ủy ban điều tra của Pháp về thất bại ở Điện Biên Phủ được đóng dấu tối mật.
Ảnh 9: Bản chép tay của đại tá Modat, Thư ký ủy ban điều tra về thất bại ở Điện Biên Phủ.
Ảnh 10: Bản đánh máy ghi lại các phiên điều trần của tướng Henry Navarre.
Ảnh 11: Báo cáo của tướng Congy gửi Ủy ban điều tra về sự bất đồng giữa ông ta và Navarre về việc chiếm đóng Điện Biên Phủ.
Ảnh 12: Trang đầu bản đánh máy ghi lại phiên điều trần của tướng Cogny.
Ảnh 13: Một trang đánh máy ghi lại phiên điều trần của tướng De Castries.
Ảnh 14: Một trong các tập hồ sơ lưu trữ của Pháp về điều tra nguyên nhân thất bại ở Điện Biên Phủ.
Ảnh 15: Tập lưu trữ các mệnh lệnh của Quân đội Pháp trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Ảnh 16: Hồ sơ các điện mật về Điện Biên Phủ được lưu trữ mỗi tập 15 ngày.
Ảnh 17: Một trong các bức điện mật của Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Bắc Đông Dương gửi tướng De Castries ở Điện Biên Phủ.
Ảnh 18: Bức thư thứ 2 của tướng Cogny yêu cầu Ủy ban điều tra làm sáng tỏ mâu thuẫn giữa ông ta và tướng Navarre.
Ảnh 19: Các hồ sơ số hiệu GR 1R231 đến GR 1R236 ghi lại các phiên điều trần về thất bại của quân Pháp ở Điện Biên Phủ..

Add a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *